Thursday, November 2, 2017

THAY ĐỔI CÁCH GỌI VNCH

MỘT THỦ ĐOẠN LƯỜNG GẠT CỦA ĐẢNG CSVN
Trần nhật Kim
Tháng 10-1017
Ngày 18-8-2017, Viện Sử Học Việt Nam giới thiệu bộ sách “Lịch Sử Việt Nam” tái bản lần thứ nhất, gồm 15 tập trải dài gần 10,000 trang, do 30 Tiến sĩ, Thạc sĩ và nghiên cứu viên biên soạn trong 9 năm.  Để biết về sự trung thực của công trình biên soạn bộ sách, chúng ta tìm hiểu về cơ cấu của tổ chức này.
Viện Sử Học được thành lập năm 1953 tính từ khi ra đời của tổ chức tiền thân là Ban nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học trực thuộc Trung ương Đảng do Trường Chinh ký ngày 2-12-1953 (Số 34 QĐ/TW).  Năm 1954, được đổi tên thành Ban Nghiên cứu Văn học, Lịch sử, Địa lý, gọi tắt là “Ban nghiên cứu Văn, Sử, Địa”.  Hiện nay Viện trực thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, là cơ quan lý thuyết của Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Viện Sử Học: có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề cơ bản về khoa học lịch sử; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển nhanh, bền vững định hướng Xã Hội Chủ nghĩa…
Vì được hoạch định theo chủ trương “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”, nên cả về nội dung lẫn hình thức đã không theo quan niệm về sử học thông thường, mà lịch sử vốn là bộ môn khoa học nghiên cứu trung thực về quá khứ, đặc biệt là những sự kiện liên quan đến con người và xã hội.
* Bộ Sử thiếu trung thực:
Trong danh sách lãnh đạo của Viện Sử học qua các thời kỳ, khởi đầu là GS. VS Trần Huy Liệu (1), nhiệm kỳ 1960 – 1969, …rồi đến người hàng thứ 6 là PGS. TS Trần Đức Cường, 2001 – 2005 và người đứng hàng thứ 8 là PGS.TS Đinh Quang Hải, kiêm phó Tổng Biên tập (7/2014 đến nay).  Ở địa vị quan trọng này, quý vị lãnh đạo của Viện hẳn phải là những đảng viên tuyệt đối trung thành và thi hành theo đường lối do đảng đề ra.  Dưới chế độ CS, tất cả mọi ban ngành đều phải phục vụ đảng, phục vụ chế độ, tính đảng phải cao hơn chuyên môn, nên các sử gia biên soạn bộ sách không thể qua mặt đảng mà thay đổi những giữ kiện lịch sử đã được chỉ đạo.  Vì vậy, không thể chệch hướng, nên càng không có chuyện “Trung thực hay Đổi mới Tư duy”.
Bộ sách “Lịch sử Việt Nam” xuất hiện từ năm 2015, mặc dầu đoạt giải thưởng sách hay, nhưng vẫn không lôi kéo được người đọc, vì người dân trong nước vốn hiểu rõ bản chất của đảng CS, nói một đằng, làm một nẻo, nói vậy mà không phải vậy.
Tháng 8-2017, bộ sách “Lịch sử Việt Nam” được tái bản lần thứ nhất đã gây nhiều tiếng vang vì chủ đề liên quan đến danh xưng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ở một vài chỗ trong tập 12.  Sự thay đổi cách gọi VNCH là “Ngụy quân, Ngụy quyền” như trước đây thành “Chính quyền Sài Gòn, Quân đội Sài Gòn”, khiến một số người Việt trong nước cho rằng đã có sự chuyển biến trong giới lãnh đạo Hà Nội, vì người dân đang chờ đợi một đời sống tự do thật sự.  Có người còn đi xa hơn khi nêu ra vấn đề về “Hòa hợp Hòa giải”.  Nhưng thực ra, nhóm biên soạn bộ sách “Lịch sử Việt Nam” không chính thức nêu đích danh “ Chính quyền VNCH”  mà chỉ dùng nhóm từ “Chính quyền Sài Gòn…”  Về điểm này, Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Đức Cường đã nói rõ khi trả lời báo Tuổi Trẻ:
“Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là một thực thể ở miền Nam Việt Nam.  Nó tồn tại trong gần 21 năm.  Năm 1954 còn có một thể chế nữa gọi là Quốc Gia Việt Nam.  Sau đó đến năm 1955 thì Ngô Đình Diệm mới phế Bảo Đại để làm Quốc trưởng, sau đó trưng cầu dân ý, bầu Tổng thống… Trước đây khi nhắc đến chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, mọi người vẫn hay gọi là ngụy quân, ngụy quyền.  Nhưng chúng tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn.”
Chỉ mới thay đổi cách gọi, nhưng để lộ thiên kiến và dụng ý của sự thay đổi này qua lời phát biểu của TS. Trần Đức Cường:
“Bản chất chính quyền Sài Gòn và quân đội Sài Gòn theo chúng tôi không có gì thay đổi cả.  Đấy là một chính quyền dựng lên từ đô la và vũ khí, thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ, ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lan xuống vùng Đông Nam Á, đồng thời chia cắt đất nước Việt nam lâu dài, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.  Điều đó không có gì nghi ngờ cả.”
“Thứ hai, quân đội Sài Gòn thực chất được Mỹ trang bị hoàn toàn và quan trọng hơn nữa là thực hiện mưu đồ của Mỹ.  Đó là thứ quân đội đi đánh thuê.  Thực chất các nhà sử học không có cách đánh giá nào khác…”
Chúng ta hãy điểm lại nhận định “Đánh Thuê” về cả hai phía VNDCCH và VNCH:
Khi TS. Trần Đức Cường tái xác định “quân đội Sài Gòn là thứ quân đội đi đánh thuê”,  hẳn ông đã quên lời phát biểu của Tổng Bí thư Lê Duẩn về thành tích và mục tiêu của “quân đội Nhân dân” miền Bắc:
- “Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”
Với câu nói để đời này của Tổng Bí thư Lê Duẩn, các vị trí thức sử gia Hà Nội, nhất là TS. Trần Đức Cường cần phải “phong tặng danh vị” nào thật xứng đáng cho “Quân đội Nhân dân” miền Bắc, để phù hợp với ý nghĩa câu nói của Tổng Bí thư Lê Duẩn trên đây.
Về nhận định Quân đội Sài Gòn là “thứ Quân đội đi đánh thuê”, hãy so sánh “Mục tiêu và Trách nhiệm” của quân đội hai bên:  
-  Về phía Quân đội Nhân dân, trong Hiến Pháp 1992 và 2013 đã quy định: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ Quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước để bảo vệ chế độ XHCN”.  Nhưng những văn bản chính thức tại Việt Nam gần đây thường viết rằng: Quân đội cần phát huy truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân”.  Cũng chiều hướng trên, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Công an phải là lực lượng tuyệt đối trung thành với đảng…”
Chúng ta không thấy hình bóng hai chữ “Tổ Quốc” trong tâm tư của tập đoàn lãnh đạo CS Hà Nội, vì tổ quốc của họ là Đế quốc Cộng sản.  Chúng ta cũng không tìm thấy “Hiếu với dân” ở đâu, vì hàng ngày chính quyền Hà Nội đang đàn áp, tù đầy, đánh đập những người dân yêu nước.
-  Về phía Quân lực VNCH, đã chiến đấu để bảo vệ miền Nam trước họa xâm lăng của CS miền Bắc, nhiệm vụ được xác định với:  Tổ Quốc -  Danh Dự  -  Trách nhiệm.  Một khẩu hiệu không chỉ riêng cho Quân, Cán Chính  VNCH, mà mọi công dân đã thuộc nằm lòng, phải có bổn phận và trách nhiệm đối với Đất nước và Dân tộc, vì Tổ Quốc trên hết.
Vì bị hạn chế trong vấn đề “Phe ta” hoàn toàn chiến thắng trong các trận đánh chiếm miền Nam, “phe địch” luôn luôn thua, chẳng hạn như trận đánh Tết Mậu Thân (1968), mà chính quyền Hà Nội thổi phồng là “Tổng công kích và Tổng nổi dậy”, đã gây ra thương vong không cần thiết cho tuổi trẻ miền Bắc.
Trận chiến xẩy ra vào ngày mồng 1 Tết Mậu Thân, bắt đầu vào ngày 30-1-1968, khiến quân dân miền Nam mất cảnh giác vì vào dịp hưu chiến để người dân hai miền Nam-Bắc vui Xuân.  Đến cuối tháng 3-1968, số tổn thất gây cho quân đội miền Bắc khá nặng nề, nâng số tử thương lên 32.000, bị bắt 5.800.  Về phía quân đội VNCH có 4.954 người chết và 3.895 quân nhân Hoa Kỳ tử thương.
Về phía nạn nhân miền Nam tại Huế do hành động sát hại của quân đội miền Bắc trong 26 ngày được ghi nhận qua 22 ngôi mộ chôn tập thể được phát hiện xung quanh thành phố Huế, trong đó có 2.326 sọ người.  Sau Tết, số gia đình kê khai số người chết và mất tích lên tới hơn 4.000 người. Ngoại trừ số người ghi nhận mất tích khoảng năm 1.946 người, nơi các mồ chôn tập thể, số nạn nhân bị hành quyết dưới nhiều hình thức như trong tư thế bị trói, bị tra tấn và bị chôn sống được ghi nhận qua các đợt tìm kiếm phát hiện:
- “1.173 người chết tìm thấy trong đợt đầu năm 1968. 809 tử thi tìm thấy trong đợt 2 khoảng tháng 3-7 năm 1969.  428 tử thi trong đợt 3 tại khu Đá Mài vào tháng 9-1969, 300 tử thi tìm thấy trong đợt 4 vào tháng 11-1969.  100 tử thi tìm thấy các nơi trong năm 1969”.  Chưa kể tới tình trạng thương tật của người dân.
* Viện trợ cho VNDCCH:
Cũng trong chiều hướng tuyên truyền cho đảng CS, với tiểu đề “Xây dựng chính quyền lệ thuộc Mỹ” tại trang 166-167 của tập 12, các soạn giả đưa ra nhận định:
“…Chủ trương của Mỹ trong giai đoạn này là tăng cường số “cố vấn” và viện trợ Mỹ, xây dựng và củng cố chế độ Ngô Đình Diệm, lấy đó làm chỗ dựa chủ yếu áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, ra sức nâng đỡ ngụy quân, ngụy quyền, dùng các lực lượng này đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam…”
Đến đây, người đọc có cảm tưởng các sử gia đưa ra tài liệu trong văn khố của đảng, đã được phân định giữa “phe ta” và “phe địch”, nên không đả động tới sự áp đặt, viện trợ quân sự của Nga-Tầu và các nước XHCN cho miền Bắc.  Chắc các sử gia bỏ qua những điều dưới đây có ghi trong lịch sử đảng về cuộc chiến tàn khốc do quân đội miền Bắc xâm lăng miền Nam sau năm 1954, một cuộc chiến xẩy ra trong lãnh thổ VNCH mà quân dân miền Nam chỉ là tự vệ.
Khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước”, “Thống nhất đất nước, Giải phóng dân tộc” chỉ là một chiêu bài để thúc đẩy, khích động lòng yêu nước mù quáng, bị mê hoặc bởi lời tuyên truyền.  Cũng trong thời gian này, theo ông Hoàng Văn Hoan, là người tham gia cách mạng từ năm 1929-1930, ghi lại trong tác phẩm “Giọt nước trong biển cả” viết tại Bắc Kinh vào tháng 2-1986 (xuất bản tháng 7-1986), sau khi đào thoát khỏi cuộc đuổi giết của đảng CSVN, đã ghi lại nguồn viện trợ của các nước XHCN cho miền Bắc, trong cuộc đánh chiếm miền Nam như dưới đây:
“theo báo Hong Kong (Reuter), Trung cộng đã đưa vào miền Bắc 320.000 lính TC và viện trợ 20 tỷ Mỹ kim để trang bị cho bộ đội chính quy Bắc Việt về quân trang và quân dụng.  Liên Xô cũng viện trợ cho miền Bắc Việt Nam 11,5 tỷ Mỹ kim và các võ khí nặng.  Triều Tiên (Bắc Hàn) dưới thời lãnh tụ Kim II Sung cũng gửi quân tham chiến tại Việt Nam, trong đó có phi công và 2.000.000 bộ quân phục.
Từ năm 1950-1954, TQ là nước duy nhất viện trợ quân sự cho Việt Nam toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.  Trong thời gian “chống Mỹ”, TQ đã cung cấp phần lớn vũ khí đạn dược, quân trang, quân dụng gồm cả thuốc men, y cụ, đại bác, xe tăng, thiết giáp, cao xạ, tên lửa, máy bay, tầu chiến, dụng cụ thay thế và xăng dầu…đủ trang bị cho hơn 2.000.000 bộ đội Việt Nam và thường xuyên cung cấp đủ số đạn dược và trang bị cần thiết cho việc tác chiến liên tục trên chiến trường.
Riêng từ năm 1965-1975, TQ đã viện trợ hơn 5 triêu tấn lương thực, hơn 300 triệu mét vải, hơn 30.000 chiếc ô tô, hơn 600 tầu thủy đủ các loại, hơn 500 đầu máy và 4 ngàn toa xe lửa, gần 2 triệu tấn xăng và các thứ hàng dệt bách hóa…”  
Nếu bảo Mỹ áp đặt chế độ “thực dân mới” tại miền Nam sau ngày chia đôi đất nước năm 1954 lại càng sai lầm.  Nước Mỹ không chiếm đất của bất cứ quốc gia nào mà chỉ giúp các quốc gia đó phát triển, thoát khỏi đời sống chậm tiến nghèo đói và hiểm họa cộng sản.  Nhìn vào Việt Nam bây giờ, nhiều địa danh tại miền Bắc như hang Pắc Bó, nơi ông Hồ cắm ngọn cờ đỏ sao vàng, dập theo mẫu cờ của tỉnh Phúc Kiến, đến thác Bản Giốc, đều phải xin giấy Thông hành của Trung cộng.  Người dân lành đã bị nhà nước Hà Nội đàn áp, đánh đập khi biểu tình chống sự xâm lăng của Trung quốc.  Là người mang danh trí thức hẳn các sử gia phải cảm thấy tủi hổ, đã đánh mất lương tri khi hành động theo đảng CS phản bội dân tộc.
Trước hành động đàn áp, bắt bớ, tù đầy người dân yêu nước của CSVN, Tướng Trần Độ đã so sánh giữa hai chế độ tù đầy của Thực Dân Pháp và XHCNVN, ông tuyên bố: “Nếu phải vào tù, xin cho vào nhà tù của chế độ Thực Dân”.
*
* Sự bất nhân trong “Cải cách ruộng đất”:
Về Cải cách ruộng đất trong Chương I tập 12, với đề mục “Miền Bắc trong thời kỳ khôi phục” có ghi ngắn gọn con số sai biệt về nông dân bị quy vào diện “cường hào ác bá” tại các địa phương trong thời “Cải cách ruộng đất”:
“…Về địa chủ “cường hào gian ác”, trong số 2.033 xã có báo cáo kể trên đã quy lên tới 14.908 người.  Sau sửa sai còn 3.932 người… Về “địa chủ kháng chiến”, trong cải cách ruộng đất chỉ công nhận có 461 người.  Sau sửa sai đưa lên tới 2.696 người…”
Các con số nêu trên không thấy nói tới số phận 172.008 người dân lành tại miền Bắc bị hành quyết vào thời Cải cách ruộng đất.  Trong số nạn nhân đó phải kể tới trường hợp tiêu biểu nhất là bà Nguyễn Thị Năm, người có công đóng góp tài sản cho Việt Minh trong kháng chiến chống Pháp.  Bà Nguyễn Thị Năm còn được gọi là Cát Hanh Long, chủ một tiệm buôn lớn ở Hải phòng, đã giúp đỡ, che giấu nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng…
Trước “Cách mạng tháng 8”, nghe lời khuyến cáo của Việt Minh gia đình bà di chuyển lên Thái nguyên và mua đồn điền tại đây, đã ủng hộ cho Việt Minh 20.000 đồng bạc Đông Dương (tương đương với 700 lạng vàng).  Khi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, bà cũng  đóng góp 100 lạng vàng và thóc gạo, vải vóc, nhà cửa… trong “Tuần lễ vàng”.  Bà Năm còn là Chủ tịch Hội Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên và Liên khu Việt Bắc trong 3 năm liền.  Nhiều cán bộ và bộ đội được bà che dấu, tá túc tại khu đồn điền của bà.
Khi cuộc Cải cách ruộng đất thực hiện vào năm 1953, những hành động của bà Nguyễn Thị Năm bị cố vấn của Trung quốc cho là “giả dối nhằm chui sâu, leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại.”  Theo hồi ký của Hoàng Tùng, thấy cố vấn Trung quốc bảo phải xử tử bà Năm, Hoàng Quốc Việt ủy viên Trung ương đảng, ủy viên ban lãnh đạo Cải cách ruộng đất, phụ trách cải cách ở Thái nguyên có báo cáo với Hồ Chí Minh về ý kiến của cố vấn Trung quốc.  Ông Hồ hứa với Hoàng Quốc Việt sẽ nói với Trường Chinh, Trưởng ban chỉ đạo, để can thiệp.  Nhưng ông Hồ đã không thực hiện lời hứa.  Hành động này đã chứng tỏ tư cách bất nhân của ông Hồ đối với người ban ơn.
Bà Nguyễn Thị Năm là người đầu tiên được đưa ra đấu tố vào ngày 22-5-1953 và được Việt Minh trả ơn bằng “phát súng ân tình” tại Đồng Bẩm, tỉnh Thái Nguyên ngày 20-7-1953.  Báo chí coi đây là phát súng khởi đầu cho cuộc vận động Cải cách ruộng đất “long trời lở đất”.
Bà Năm có hai con trai là Nguyễn Hanh và Nguyễn Cát hoạt động từ ngày đầu cách mạng năm 1944.  Nguyễn Cát còn là Trung đoàn trưởng sư đoàn 308.  Cả hai đã bị đi cải tạo trong nhiều năm.
Ngày 21-7-1953, một ngày sau khi bà Năm bị tử hình, báo Nhân Dân đăng bài “Địa chủ ác ghê” ký tên C.B., một bút hiệu của Hồ Chí Minh.  Nội dung bài báo có nghi những lời bịa đặt:
Mụ địa chủ Cát Hanh Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã giết chết 14 nông dân.  Làm chết 32 gia đình gồm 200 người.  Năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng.  Chúng bắt làm nhiều ăn đói.  Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết không còn một người.  Chúng đã hãm chết 30 nông dân…Năm 1944-1945, chúng đưa 20 trẻ mồ côi về nuôi.  Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt.  Chỉ mấy tháng sau 15 em đã bỏ mạng…
Thế là ba mẹ con địa chủ Cát Hanh Long đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào...                                     Sau Cách mạng tháng 8, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến.
Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố cáo.  Mẹ con Cát Hanh Long không thể chối cãi, đã thú nhận tất cả tội ác hại nước hại dân.  Thật là: viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng.  Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!”
Tác giả bài báo được ghi rõ là: C.B.   (Nguồn:  Wikipedia)
Trên thực tế, theo thống kê chính thức đăng trong cuốn Lịch sử Kinh tế Việt Nam ghi nhận, số nạn nhân bị thảm sát trong Cải cách ruộng đất lên tới 172.008 người, chia ra như sau:
-  Địa chủ cường ào gian ác:  26.453 người (trong đó 20.493 người bị oan)
-  Địa chủ thường:  82.777 người (trong đó có 51.480 người bị oan)
-  Địa chủ kháng chiến:  586 người (trong đó có 290 người bị oan)
Như vậy, trong số nạn nhân bị hành quyết có 123.493 người bị oan.  Ngoài số thân nhân liên hệ với nạn nhân tính gộp cũng lên tới 500.000.  Họ bị khủng bố tinh thần, bị bạc đãi, sống vất vưởng ngoài lề xã hội.  Như trường hợp bố mẹ vợ của nhà thơ Hữu Loan (tác giả nhạc phẩm “Mầu tím hoa sim” bị thảm sát một cách tàn nhẫn, tịch biên gia sản, con gái của ông bà bị địa phương sua đuổi, không nơi nương tựa, sống lây lất như một người ăn mày.  Ông kể lại, bố mẹ vợ ông là một điền chủ đã từng ủng hộ nhiều thứ cho Việt Minh, cho người gánh gạo tới giúp các đơn vị bộ đội ốm yếu vì thiếu ăn.  Vào ngày thi hành án tử hình, bố mẹ vợ ông bị chôn sống, chỉ còn cái đầu trên mặt đất.  Đội cải cách đã cho trâu kéo chiếc bừa đi qua lại chỗ chôn bố mẹ vợ ông.  Ông đã lấy cô gái này làm vợ sau khi bỏ đảng CS.
Về sai lầm trong cải cách ruộng đất có ghi ngắn gọn trong bộ sách Lịch sử Việt Nam:
“Những sai lầm trong cải cách ruộng đất rất nghiêm trọng.  Chính phủ đã nghiêm túc kiểm điểm rõ sai lầm ngay trước kỳ họp Quốc Hội lần thứ 4 ngày 4-1-1957.  Báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội nêu rõ: “Công tác cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đã phạm nhiều khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng…”
Trên thực tế, sau thời gian các đội, các đoàn CCRĐ giết hại quá nhiều người dân vô tội với tỷ lệ 5% dân số mỗi xã (2), đã gieo kinh hoàng cho người dân nông thôn miền Bắc, sự bất mãn ngày càng gia tăng trong dân chúng khiến đảng phải nhận sai lầm.  Tháng 2-1956, Hội nghị TƯ đảng lần thứ 9 đã tuyên bố sai lầm trong CCRĐ.  Tháng 3-1956, Quốc hội họp lần thứ 4, tường trình báo cáo sai lầm và biện pháp sửa sai.  Ngày 18-8-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào và cán bộ nhìn nhận sai lầm.
Tháng 9-1956, sau Hội nghị lần thứ 10, ông Trường Chinh mất chức Tổng Bí thư, ông Hoàng Quốc Việt ra khỏi Bộ Chính trị, ông Lê Văn Lương mất chức Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, ông Hồ Viết Thắng ra khỏi Ban chấp hành Trung ương đảng. Ông Hồ kiêm nhiệm Tổng Bí thư.
Ngày 29-10-1956, tại nhà hát nhân dân Hà Nội, Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương đảng chính thức công nhận những sai lầm trong chính sách CCRĐ.  Sự việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận lãnh sai lầm việc thực thi chính sách CCRĐ, mặc dù ông đứng ngoài chiến dịch này, đã chứng tỏ Hồ Chí Minh thiếu đạo đức và tư cách lãnh đạo của người cầm đầu đảng CSVN.  Đúng ra, ông Hồ là người phải chịu trách nhiệm vì đã ký ban hành chính sách thất nhân tâm này.  Ông Hồ đã để rơi giọt nước mắt xót thương những nạn nhân của CCRĐ.  Nhưng đó chỉ là một hành động đạo đức giả sau khi đã đạt được thành quả mà các cố vấn Trung quốc mong muốn.  Đến đây, chúng ta cũng không quên nhắc lại chuyện Trường Chinh đấu tố chính mẹ đẻ với câu nói để đời: “Bà ấy là mẹ tôi, nhưng nó là địa chủ” đã được ghi lại trong nhiều bài viết.
“Một cơn gió bụi” vạch trần tội ác của Hồ Chí Minh và đảng CS:
Cũng vào thời điểm xuất hiện bộ “Lịch sử Việt Nam” một số sách viết về lịch sử VN bị thu hồi, trong đó có quyển hồi ký “Một cơn gió bụi” của ông Trần Trọng Kim.  Học giả trong nước đã nhận định về ông Trần Trọng Kim là một sử gia uyên bác, có nhiều công trình giá trị.  “Một cơn gió bụi” là tác phẩm ghi lại trung thực những chứng cứ lịch sử vào thập niên 40 của thế kỷ trước, đã phơi bầy mục đích cũng như hành động tàn bạo của Hồ Chí Minh và đảng CSVN từ ngày đầu thành lập nước VNDCCH.  Chúng ta điểm qua các trích đoạn trong Chương 7 của cuốn hồi ký này:
- “…Về đường thực tế, các đặc sắc của cộng sản là không nhận có luân thường đạo lý, không biết có nhân nghĩa đạo đức như người ta vẫn tin tưởng.  Người cộng sản cho cái điều đó là hủ tục của xã hội phong kiến thời xưa, đặt ra để lừa dối dân chúng, nên họ tìm cách xóa bỏ hết.  Ai tin chỗ ấy là người sáng suốt, là người giác ngộ, ai không tin là người mờ tối, là người mê muội…
“Cái xã hội mới ấy không tranh đấu cho quốc gia dân tộc.  Dù có nói tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc nữa cũng chỉ là cái phương pháp dùng tạm thời trong một cơ hội nào để cho được việc mà thôi, chứ mục đích cốt yếu là tranh đấu cho giai cấp vô sản…
“Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh, thấy luôn luôn nói nào là hạnh phúc, nào là tự do, bình đẳng, mà sự thật thì trái ngược cả.  Những lối họ dùng là nói dối, đánh lừa cướp bóc, giết hại tàn phá, không kiêng dè gì cả, miễn làm cho người ta mắc lừa hay sợ hãi mà theo mình là được…
“Cái thủ đoạn của Việt Minh là dùng mọi cách bạo ngược, tàn nhẫn, giả dối, lừa đảo để được việc trong một lúc.  Ngay như họ đối với Việt Nam Quốc dân đảng nay nói là đoàn kết, mai nói đoàn kết, nhưng họ vẫn đánh úp, vẫn bao vây cho tuyệt lương thực.  Khi họ đánh được thì giết phá, đánh không được thì đoàn kết, rồi cách ngày lại đánh phá…”
Lý do khiến học sinh chán học môn sử:
Sau hơn nửa thế kỷ ép buộc học sinh miệt mài với Chủ nghĩa Mác - Lenin bách chiến bách thắng, mặc dù chủ thuyết này đã lỗi thời và bị dẹp bỏ tại các nước theo chủ thuyết CS.  Hay học tập “Tư tưởng và Đạo đức Hồ Chí Minh”, nhưng ông Hồ đã tuyên bố “Ông không có tư tưởng nào cả, mọi tư tưởng là của Mao Trạch Đông”.  Hơn nữa, hành động của ông HỒ đã thể hiện sự tệ hại về đời sống không đạo đức.
Các vị Sử gia nghĩ gì về môn Lịch sử Việt Nam ngày càng xuống dốc thảm hại như hiện nay.  Có phải vì chính sách của nhà nước đặt nặng vào tuyên truyền vọng ngoại, nên không còn hấp dẫn học sinh?
Từ Công Hàm Ngoại giao do Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu ân Lai năm 1958 về lãnh hải, trong khi các hải đảo thuộc chủ quyền VNCH, đến sách địa lý lớp 9 do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 1974, đã là phần tài liệu của Trung cộng chuyển tới Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, ông Ban Ki-moon ngày 9-6-2014, để xác nhận chủ quyền tại Biển Đông.
Một thí dụ điển hình, chiều ngày 2-6-2014, chỉ có 2 thí sinh thi môn Sử tại trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai.  Sáng ngày 4-7-2015, tại điểm thi trường THPT Yên Thành 2, chỉ có 1 thí sinh duy nhất thi môn Sử với 66 cán bộ nhân viên phục vụ, gồm có 48 cán bộ coi thi, 12 nhân viên bảo vệ và 6 cán bộ phục vụ thi.
Chắc các sử gia không quên, vào ngày 21-3-2010, khi cả nước tổ chức rầm rộ lễ giỗ Hai Bà Trưng, đảng CS Hà Nội đã âm thầm cử một phái đoàn, với sự tham dự của Đoàn Nghệ Thuật Việt Nam, đóng vai Hai Bà Trưng và Thi Sách sang tế lễ Mã Viện nơi đền thờ Phục Ba Tướng quân tại Đông Hưng, Quảng Đông (Giáp ranh với cửa khẩu Móng Cái, Việt Nam).  Hình ảnh phái đoàn Việt Nam sang tế Mã Viện từ năm 2008 được ‘Nhật báo Đông Hưng đăng tải ngày 17-2-2008)  (Nguồn:  Con dân đất Việt – 26-3-2010).
Lịch sử dân tộc ngày càng mai một là điều phải xẩy ra khi chính quyền Hà Nội đặt trọng tâm vào tuyên truyền, xóa bỏ những bài học lịch sử anh hùng của tiền nhân từ hồi dựng nước, đã cùng dân tộc chống kẻ thù phương Bắc trong 1.000 năm đô hộ.  Gương sáng của tiền nhân đã bị loại bỏ khỏi môn sử vì bị lệ thuộc vào Trung cộng, nhất là sau Hội nghị Thành Đô năm 1990.
Khi TS Trần Đức Cường tuyên bố,“thay đổi cách gọi tên chỉ thể hiện sự trung tính, tôn trọng lẫn nhau, là quyết định của tập thể các nhà nghiên cứu sử học, chứ không có bất cứ sức ép hay động cơ gì…” Câu nói “vuốt đuôi” trên đây chỉ là sự “tôn trọng nửa vời”, khó làm người Việt tin tưởng.
Dụng ý khi thay đổi cách gọi VNCH:
Do những mâu thuẫn trong bộ sách “Lịch sử Việt Nam”, một câu hỏi đặt ra: tại sao sự thay đổi cách gọi “Chính quyền Sài Gòn , Quân đội Sài Gòn” lại xẩy ra vào thời gian này?  Có phải vì nhu cầu:
- Lợi dụng chủ quyền của VNCH về Hải đảo Hoàng sa, Trường sa vốn nằm trong lãnh thổ VNCH với sự  nhìn nhận của quốc tế qua Hiệp Định Genève năm 1954.  Điều này gặp nhiều trở ngại khi các Hiệp định sang nhượng đất biển đã được các đời Tổng Bí thư của đảng CSVN ký kết với đảng CS Trung quốc hay dưới danh nghĩa các công ty ngoại quốc đầu tư, bất kể tới an ninh quốc phòng cũng như phương tiện sống của người dân nghèo.
- Kêu gọi cộng đồng người Việt hải ngoại đầu tư, đóng góp để bù lấp lỗ hổng kinh tế trong nước ngày một thiếu hụt, nợ công ngập đầu.  Chính quyền Hà Nội không còn khả năng chi trả dù chỉ để trả phần tiền lời hàng năm.  Trong khi lượng kiều hối từ 12 Tỷ/năm vào năm 2014 xuống dưới 5 Tỷ vào năm 2016 và lượng kiều hối ngày càng tuột dốc.  Cho dù có cưỡng bách người dân đóng thuế, cũng không thể bù đắp lỗ hổng thiếu hụt vì nạn tham nhũng ngày một gia tăng.
- Hay gánh bớt tội “bán nước” cho đảng CSVN khi thời hạn bán nước giao kết giữa các lãnh tụ của hai đảng CS Việt-Tầu tại Hội nghị Thành Đô năm 1990 đã gần kề.  Chắc chắn người Việt trong và ngoài nước đã biết rõ mặt trái của chiêu bài giả hiệu này của đảng CSVN.
*
Kết luận:
Bộ sách “Lịch sử Việt Nam” vừa tái bản đã để lại nhiều mâu thuẫn vì thiếu trung thực.  Những giữ kiện lịch sử sai lạc nêu ra trong sách, chỉ thể hiện một bộ sách nặng về chính trị, đã không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu về lịch sử dân tộc của người đọc, nhất là giới trẻ trong nước.  Tệ hại hơn nữa, nhiều giữ kiện nêu ra trong sách hoàn toàn khác với thực tế đã được viết ra từ thế kỷ trước.  Những sự kiện lịch sử được nêu ra thiếu nguồn gốc chứng minh.  Điểm nổi bật nhất, trong 20 năm chiến tranh Nam-Bắc, như được chỉ đạo “phe ta” luôn luôn chiến thắng, “phe địch” phải thua, nên các soạn giả chỉ nói tới con số thương vong của “Địch” mà quên nói của bên “Ta”.  
Nhiều sử gia cũng như các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra những nhận định về bộ sách này. Đơn cử như nhận định của sử gia Lê Văn Lan, cho rằng bộ sử có tiếng vang là do thủ thuật tuyên truyền.  Nhà sử học Christopher Gosha, giảng dạy tại Đại học Quebec ở Montreal – Canada, nghiên cứu về lịch sử Việt Nam cho đây là “một công cụ phục vụ chính trị”.
Nhiều soạn giả khẳng định không bị bất cứ áp lực nào khi biên soạn bộ sách Lịch sử Việt Nam.  Nếu đây là sự thật, qua nội dung của bộ sử, cần phải xét lại khả năng cũng như tư cách của các soạn giả.  Nếu trường hợp biên soạn theo chỉ đạo của đảng CSVN, thì đó chỉ là một thủ đoạn tuyên truyền lừa gạt người đọc.
Thực chất của Bộ sách “Lịch sử Việt Nam” thiếu trung thực, không giống cách biên soạn của bất cứ bộ sử nào tại các quốc gia Tự Do.  Bộ sử LSVN chỉ có lượng mà thiếu phẩm.  Với gần 10.000 trang sách kéo dài 15 tập, đáng được coi là một công trình “vĩ đại”, nên được ghi nhận kỷ lục Guiness, như nhiều thứ kỷ lục đã có tại Việt Nam.
*

Chú thích
Tài liệu tham khảo và hình trên mạng bách khoa - Wikipedia.
- FB Nguyễn Thị Bích Ngà: Về Bộ sách LSVN - Lịch sử do đảng viết.
- Trần Trọng Kim:  “Một cơn gió bụi” viết năm 1949, xuất bản tại Sài Gòn năm 1969 và được Hội Nhà văn          Hà Nội tái bản váo tháng 4-2017 sau khi được cắt bỏ nhiều đoạn.
- Giáo sư Trần Anh Tuấn:  Về bộ Lịch sử Việt Nam.
(1) - Trần Huy Liệu: sinh 1901-1969.  Trước năm 1928 ông tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng, được kết nạp vào Đảng CS Đông Dương năm 1936.  Từng giữ các chức vụ Bộ Trưởng Bộ thông tin chính phủ VNDCCH.  Sau đó lần lượt:  Bộ Trưởng Bộ tuyên truyền Cổ động, Chính trị Cục trưởng trong Quân sự Ủy viên hội, Bí thư Tổng Bộ Việt Minh, Ủy viên Thường trực Quốc hội, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội…
(2) - Nguyễn Minh Cần: Đừng quên bài học CCRĐ nửa thế kỷ trước.
 

Tuesday, October 17, 2017

RIP: HOÀNG NGHĨA NGHI



Quý anh chị thân mến,
Hội Cựu Cán Bộ XDNT Bắc Cali vừa nhận được tin buồn từ tang gia:

Con xin chào cô/chú,
Con là Thảo, con gái ông Hoàng Nghĩa Nghi. Bố con lúc trước là Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, và trong group email North Cal Xây Dựng Nông Thôn. Con xin thông báo với cô/chú tin bố con đã qua đời vào Thứ Bảy ngày 14 tháng 10 năm 2017. Bố con có dặn con thông báo cho các cô chú trong group Xây Dựng Nông Thôn khi bố con qua đời. Nay con xin thông báo với mọi người ạ.


Monday, September 18, 2017

HỆ QUẢ TAI HẠI CỦA NỀN KINH TẾ BAO CẤP (Trần Nhật Kim)

Đời sống của người Hà Nội vẫn không mấy đổi khác so với lần tôi ghé thăm vào năm 1983 sau khi ra khỏi trại tù cải tạo Thanh Cẩm-Thanh Hóa, mặc dù đã trải qua thời gian dài “người Nam nhận họ, người Bắc nhận hàng” từ sau ngày 30-4-1975.  Tài sản của miền Nam đã “theo nhau” ra Bắc, nhưng cũng không vực dậy được phần đất sau một thời gian dài chìm đắm trong ảo mộng bá quyền, thay vì kiến thiết xứ sở khi chiến tranh chấm dứt.  
Một vài nơi, bộ mặt thành phố đã sáng sủa hơn trước, nhưng để lộ khoảng cách giầu nghèo ngày càng sâu rộng, giữa người dân cô thế và kẻ cầm quyền độc đoán.
*
Không ai biết ý nghĩa của danh từ “Bao Cấp”, một chính sách làm thay đổi nếp sống miền Bắc vào những năm 1954 đến 1975 và kéo dài tới sau ngày “mở cửa” vào năm 1986.  Tại miền Nam, thời kỳ bao cấp bắt đầu từ năm 1976 tới năm 1986.  Nhưng mọi người đều biết đây là một giai đoạn khó khăn về vật chất do nền kinh tế được kế hoạch hóa, loại bỏ tiểu thương.  Mọi nguồn hàng hóa sản xuất đều tập trung trong tay nhà nước, phân phối theo chế độ “Tem Phiếu”, một đặc điểm của các quốc gia theo chủ thuyết cộng sản.  
Mọi hình thức kinh doanh đều được quản lý theo mô hình xã hội chủ nghĩa, nhà nước độc quyền phân phối hàng hóa đến tay người dân.  Sự phân phối theo tiêu chuẩn dựa vào chức vụ, cấp bậc mà không theo nhu cầu tối thiểu của người dân.  Sự phân chia nhu cầu đời sống xã hội không đồng đều, một “giai cấp mới” thành hình do sự ưu đãi thành phần cán bộ cầm quyền và gia đình họ.  Hình thức “móc ngoặc – xin cho” trong xã hội cũng bắt đầu xuất hiện, nẩy sinh nạn tham nhũng cửa quyền.  Cũng bằng đường lối “ưu đãi” phe nhóm này, đã tạo ra một tập đoàn tay chân trung thành với đảng chỉ vì quyền lợi, mà không vì sự hưng thịnh của đất nước.  
Để ngắn gọn, “thời bao cấp” được hiểu là một giai đoạn mà việc phân phối nhu yếu phẩm tới tay người dân, từ cây kim sợi chỉ đến lương thực hàng ngày nằm trong tay nhà nước.  Lương tháng cho công chức đa phần tính bằng hiện vật và một ít tiền mặt.  Thực ra, dù có tiền cũng không thể xử dụng vì nguồn hàng hạn hẹp, không được bầy bán tự do ngoài thị trường.  Việc vận chuyển hàng hóa từ địa phương này tới nơi khác đều bị cấm.  Vì sản xuất không đủ cho nhu cầu nên bán theo kiểu nhỏ giọt, có nhiều bán nhiều có ít bán ít, không hứa hẹn đáp ứng nhu cầu cần thiết cho mọi gia đình, đã tạo ra tình trạng buôn bán chợ đen.
Chế độ hộ khẩu được thực hiện vào thời điểm 1960, để phân phối thực phẩm theo đầu người, ấn định số lượng và loại hàng được mua, trong đó sổ gạo là quan trọng nhất.  Gạo được đặt lên hàng đầu được phân phối theo diện lao động.  Mỗi tháng cán bộ được mua 13 kg, lao động nặng được mua 13-19kg, bộ đội được mua 21 kg, nông dân được mua 11-13kg, trẻ em dưới 3 tuổi được mua 3kg.  Do số lượng gạo nhà nước cấp phát quá ít nên địa phương đã phải trách nhiệm về phần thực phẩm độn như ngô, khoai, sắn, bo bo.  
Với chế độ ‘Hộ khẩu’, nhà nước đã nắm trọn mọi hành động và sự chuyển dịch của người dân tại nơi cư ngụ.  Mặt khác, người dân đã lệ thuộc hoàn toàn vào nhà nước qua miếng ăn.
Đặc điểm của thời bao cấp là nhà nước quy định về phẩm vật cho cán bộ, công nhân các mặt hàng thiết yếu cho nhu cầu hàng ngày của người dân qua hệ thống “tem phiếu”.  Tem phiếu chiếm địa vị quan trọng trong đời sống, vì có tiền mà không có tem phiếu cũng không mua được hàng.  
Phiếu mua thực phẩm gồm nhiều loại khác nhau cho tất cả các loại nhu yếu phẩm.  Tem phiếu quy định loại hàng và số lượng người dân được mua, tùy thuộc vào tiêu chuẩn cũng như diện được ưu đãi thụ hưởng.  Như cán bộ cao cấp được hưởng tiêu chuẩn đặc biệt: phiếu A dành cho chức vụ Bộ trưởng, phiếu B cho Thứ trưởng.  Trưởng các Cục, Vụ, Viện hưởng tiêu chuẩn phiếu C.  Một số các cửa hàng phục vụ riêng cho thành phần ưu tiên này.  Vì hàng hóa không đủ cho nhu cầu nên nạn đầu cơ, mua bán tem phiếu xẩy ra, đã khuấy động đời sống xã hội.
Sự phân chia thành phần ưu tiên được thụ hưởng theo tiêu chuẩn địa vị và cấp bậc, đã tạo ra sự chia rẽ trong xã hội.  Nói riêng về thịt, theo tiêu chuẩn người dân mỗi tháng được mua hoặc thịt hay mỡ là 150g, trong khi cán bộ trung cấp được mua gấp đôi là 300gr một tháng.  Nhưng thành phần cán bộ cao cấp có tiêu chuẩn ưu đãi hơn, mỗi tháng được mua 6kg.  Là một quốc gia nặng về nông nghiệp mà rau tươi cũng được mua theo tiêu chuẩn mỗi người mỗi tháng từ 3 đến 5 kg.
Tình trạng yếu kém của thực phẩm cả về lượng cũng như phẩm dưới thời bao cấp được diễn tả qua câu vè:
Nhất gạo nhì rau - Tam dầu tứ muối - Thịt thì đuôi đuối - Cá biển mất mùa – Đậu phụ chua chua – Nước mắm nhạt thếch – Mì chính ‘có đếch’ – Vải sợi chưa về - Săm lốp thiếu ghê - Cái gì cũng thiếu.
Về các mặt hàng khác, theo thông báo của Sở Thương nghiệp, các đại lý diêm được bán cho mỗi người 5 bao diêm vào mỗi lần xếp hàng, mỗi công nhân viên được cấp mỗi năm từ 5 đến 7 mét vải, nên quần áo vá chằng vá đụp là chuyện thường thấy trong xã hội, nhất là thành phần lao động nặng hay các nông dân tại vùng quê vào mùa đông tháng giá.  Các mặt hàng sản xuất không đủ nhu cầu của người dân nên mọi thứ đều theo tiêu chuẩn, ngay như áo lót ‘May-ô’của đàn ông cũng chỉ được 2 chiếc một năm.  Tình trạng này được diễn tả:
“Bắt ở trần phải ở trần,
Cho may-ô mới được phần may-ô”
Hoàn cảnh kinh tế yếu kém của xã hội miền Bắc đã ảnh hưởng tới đời sống người dân:
Một yêu anh có may-ô
Hai yêu anh có cá khô để dành
Ba yêu rửa mặt bằng khăn
Bốn yêu bàn chải đánh răng hàng ngày
Năm yêu anh có đôi giầy
Sáu yêu anh có khăn quàng vắt vai
Bảy yêu có sắn gạc nai
Tám yêu nước mắm cả chai ăn dần
Chín yêu anh rất chuyên cần
Mười yêu anh chỉ để phần cho em.
Các nhu yếu phẩm không đủ đáp ứng nhu cầu của người dân nên xếp hàng là một điều cần thiết để thực hiện lẽ công bằng.  Nhưng nhiều khi xếp hàng từ khuya vẫn không mua được vì đến lượt thì hết hàng, nên có câu vè trong dân gian diễn tả thực chất của một nhà nước theo chủ thuyết Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN):
Xếp hàng cả ngày – Xếp hàng cả năm – Xếp hàng chửi nhau – Xếp hàng choảng nhau – Xã hội Chủ nghĩa…
“Đói đến mờ mắt” là một nhận định chính xác nhất để diễn tả đời sống xã hội dưới thời bao cấp.  Chính cái đói sinh ra hèn và mất lương tri, nẩy sinh nạn trôm cắp ngày càng tinh vi, phổ biến.  Thành phần bất lương trộm cắp trà trộn vào đoàn người xếp hàng tìm cách móc túi, lừa gạt, khiến nhiều người xếp hàng đã bị lấy cắp tem phiếu hay sổ gạo, gây ra cảnh khốn cùng.  Các quan tham cũng lộng hành trong giai đoạn này.
Dưới thời bao cấp, miền Bắc là một phần đất khép kín, nên các quốc gia phương Tây coi đây là một vùng nằm sau bức màn sắt, chỉ giao tiếp với các nước theo chế độ cộng sản có đời sống xã hội không hơn Việt Nam bao nhiêu.  Người dân không liên hệ với các quốc gia có tư tưởng chính trị khác biệt và bị cấm không được tiếp xúc với người Tây phương, nếu vi phạm sẽ bị nghiêm trị.  
Báo chí trong nước rất hạn hẹp, trung bình 10 người 1 tờ báo Nhân Dân, 1 tờ Cứu Quốc.  Người dân chỉ theo rõi các tin tức được sàng lọc theo mục tiêu đã định của nhà nước qua các buổi phát thanh tại địa phương, nhà nước nói sao người dân biết vậy.  Việc nghe các đài ngoại quốc bị nghiêm cấm. Trên giấy “Chứng nhận đăng ký máy thu thanh” đã ấn định “Cấm nghe đài địch”.  Mạng lưới “Công an nhân dân” được hình thành để theo rõi, báo cáo lên cơ quan quản lý tại địa phương những cá nhân vi phạm.  Hình ảnh “đấu tố” được lập lại qua hình thức phê bình kiểm điểm vào các buổi sinh hoạt học tập chính sách nhà nước tại địa phương, khiến tình trạng nghi kỵ giữa mọi thành phần dân chúng ngày một gia tăng.
Sản phẩm văn hóa Tây phương như sách báo, phim ảnh bị kiểm soát nghiêm ngặt.  Chỉ lưu hành trong nước những sản phẩm văn học nào được xem là “trong sạch”, gần gũi với đời sống người dân, như văn học thuộc các nước theo chế độ cộng sản.  Các rạp chiếu bóng phần lớn chỉ trình chiếu các phim ảnh thuộc phe xã hội chủ nghĩa, mà phần lớn là những phim truyện có chủ đề mang tính chất cách mạng đấu tranh nặng tính tuyên truyền.  Nhiều khi trình chiếu các phim ảnh có nội dung sai sự thật, như câu truyện trong phim “Vùng Trời” chiếu vào thập niên 1970.  Nội dung phim kể lại thành tích của anh phi công lái phản lực Mig, sau khi quần thảo với “Thần Sấm” bị trục trặc đã đáp an toàn trong rừng rậm miền Bắc.  
Tất cả những hành động trên được học tập theo chỉ đạo của ông Hồ, như tại các buổi sinh hoạt với các cán bộ vào ngày đầu cách mạng về “Nghệ thuật tuyên truyền”, một điều sai nhắc lại nhiều lần  người nghe sẽ tin là sự thật.  Điều này đã ảnh hưởng tới tuổi trẻ trong chính sách “trăm năm trồng người”, khi gieo mầm cộng sản: “Đầu óc ngây thơ của tuổi trẻ như tờ giấy trắng, nhuộm xanh hóa xanh, nhuộm đỏ thành đỏ…”, như chuyện cậu bé Lê Văn Tám, tự tẩm săng đốt cháy chạy tới phá kho đạn của địch, được lưu truyền vào thập niên 1950.  
Hậu quả của sự lừa gạt người dân nêu trên, khiến nếp sống hài hòa, gần gũi, thân thiện của người Hà Nội năm xưa, một sớm một chiều đã thay đổi, trở lên khép kín, bề ngoài, dễ bị ngộ nhận là vô cảm.  
Như vậy, hoàn cảnh này, nếp sống này do đâu mà ra?

*
Sau khi Việt Minh cướp đoạt chính quyền dân cử của Thủ Tướng Trần Trọng Kim, nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” ra đời ngày 2-9-1945.  Theo lời hiệu triệu ngày 19-12-1946 của ông Hồ và lực lượng Việt Minh, cả nước tiến hành cuộc “trường kỳ kháng chiến”.  Lấy cớ chống lại quân Pháp, ông Hồ kêu gọi toàn dân thực hiện chính sách “tiêu thổ kháng chiến” kể từ ngày 16-1-1947.
Theo Wikipedia, tiêu thổ kháng chiến là một chiến thuật quân sự, phá hủy tất cả những thứ địch quân có thể xử dụng, như đốt bỏ lương thực, trước khi quân địch tới.  Nhưng trên thực tế, chiến pháp này, ngoài lương thực, còn phá hủy các phương tiện trọng yếu như nhà cửa, giao thông liên lạc, cơ sở kỹ nghệ…
Để thực hiện chính sách trên sau lời kêu gọi của ông Hồ, các cán bộ cùng với nhân dân địa phương tham gia phá cầu đường trên toàn quốc để ngăn chặn sự di chuyển của quân đội Pháp.  
Tại miền Bắc, hầu hết các phương tiện giao thông như Quốc lộ đến các giao lộ chính tại nông thôn đã bị phá trong năm 1947-1948.  Các cầu lớn và các Quốc lộ như QL 1, QL 5… bị phá hủy, các tuyến đường sắt từ Hà Nội đến Ải Nam Quan cũng như tới các tỉnh miền Bắc đều gặp trở ngại vì đường tầu bị bóc dỡ.  Các ngả giao thông đường sắt cũng như đường bộ chính tại miền Trung và các tỉnh miền Nam cũng chung số phận, bị phá hủy, đắp mô, xẻ đường…hầu gây khó khăn, cản trở bước tiến quân của Pháp. Riêng tại miền Nam, các hoạt động phá hoại, khủng bố tại các làng mạc đông dân cư, do thành phần cộng sản miền Bắc và nằm vùng đã kéo dài nhiều năm kể cả sau ngày chia đôi đất nước vào năm 1954.  Chính những hành động này đã gây trở ngại không ít cho sinh hoạt của người dân, cũng như đất nước gặp nhiều khó khăn để phục hồi.
Cùng với “Tiêu thổ kháng chiến” nhằm đốt phá hoa mầu làng mạc trước khi giặc tới, chính sách “Cải cách ruộng đất” đã phá tan nguồn sản xuất căn bản tại nông thôn, khiến vựa thóc của vùng Châu thổ sông Hồng vốn có khả năng nuôi sống người dân miền Bắc như thời gian trước đây đã trở thành tan hoang.  Về phương diện tinh thần, song song với “Cải cách ruộng đất”, chính sách “Đấu Tố”: con tố cha mẹ, vợ tố chồng, đã phá vỡ nền tảng đạo đức, giáo dục của gia đình.  “Đấu tố” cũng loại bỏ hệ thống Hương Ước xóm làng, một điều luật bất thành văn, đã uốn nắn, gìn giữ nền tảng đạo đức gia đình qua nhiều thế hệ.  Theo chiều hướng trên, chính sách “Trăm hoa đua nở” được áp dụng triệt để theo đường lối của Trung cộng, từ đốt bỏ các loại sách báo văn học lưu giữ qua nhiều thế kỷ, đến cầm tù giới trí thức, khiến đời sống tinh thần của dân tộc trở lên mất nguồn gốc văn hóa.  
C:\Users\Huong N Tran\Downloads\Hn12.jpgMiền Bắc trở thành “Vườn không nhà trống”, sinh hoạt phát triển kinh tế bị ngưng trệ.  Việc sản xuất của tư nhân như trong thời Pháp thuộc hoàn toàn bị cấm đoán, khiến người dân miền Bắc bị lệ thuộc vào đảng và nhà nước, cả về vật chất lẫn tinh thần.  Một hình thức “bế quan tỏa cảng” cách ngăn với thế giới Tây phương, ngoại trừ chỉ còn giao tiếp với một số nước theo chủ nghĩa xã hội như Liên Xô, Trung cộng...  Những động thái trên đưa miền Bắc tới nghèo đói, thiếu thốn về mọi phương diện là điều phải xẩy ra.  Do đó, chính sách “Bao Cấp” ra đời.  Mà không lâu trước đây, như nhà văn Tô Hoài ghi lại về sinh hoạt của Hà Nội vào ngày tiếp thu năm 1954, trong chương II của tác phẩm hồi ký “Cát bụi chân ai”, viết vào năm 1990:   
“…Chín năm ở rừng, không có lương, quần áo phát theo mùa, xà phòng tắm và giặt cũng lĩnh ở kho từng miếng.  Cơ quan sắm dao kéo, tông đơ mọi người húi đầu cho nhau.  Trở lại thành phố khó đâu chửa biết, nhưng thức ăn và hàng hóa ê hề.  Chiều chiều, uống bia Đức chai lùn bên gốc liễu nhà thủy tạ...  Nhà hàng Phú Gia, vang đỏ vamg hồng vang trắng còn dính rơm như vừa lấy dưới hầm lên...  Hàng Trung Quốc thôi thì thượng vàng hạ cám.  Kim sào, kim khâu, chỉ mầu…
Ông cũng ghi nhận về hiện tình đất nước lúc bấy giờ như cánh đồng mới cày vỡ, chưa biết cấy hái ra sao.  Trong khi đó vết thương “Cải cách ruộng đất”, chỉnh đốn tổ chức còn đỏ hỏn tại thôn quê.  Các thành phố bắt đầu “cải tạo tư sản”.  Báo chí hô hào trăm hoa đua nở.  Một số người có tiền chung nhau mua lại một số cơ sở sản xuất như nhà máy thuộc da Thụy Khuê, nhà máy gạch Cầu Đuống đã được liệt vào thành phần tư sản.  Nhà giầu cửa đóng im ỉm, người ra vào khuân lén đồ đạc lúc chập tối…  
Các thành phố bất chợt đổi khác.  Nhà máy làm diêm, nhà máy làm gạch thời Pháp đã biến thành trại lính, tanh bành như bãi hoang.  Mỏ than Hòn Gai, đường sắt Hải Phòng - Vân Nam chuộc mất nhiều tiền.  Chiến thắng rồi cũng không lấy lại được…
Báo Nhân Văn ra đến số 6 bị tịch thu tại nhà in, nhà xuất bản Minh đức bị đóng cửa.  Sóng gió đấu tố ở nông thôn trải dài từ Nghệ An, Hà Tĩnh đến Hải Dương.  Nhiều địa chủ  đã được sửa sai vẫn chưa dứt cơn hốt hoảng, bỏ quê lên thành phố…
Với chính sách phân phối thực phẩm theo địa vị, cấp bậc đối với thành phần cán bộ lãnh đạo, đã tạo ra tầng lớp được ưu đãi “ăn trên ngồi trước” mà không màng tới nhu cầu cấp thiết của người dân nghèo thấp cổ bé miệng.  Nạn tham nhũng ra đời đã làm suy sụp đất nước.  Đây là lý do tại sao nước Việt Nam dưới chế độ cộng sản không thể phát triển và ngày càng sa sút cả về vật chất lẫn tinh thần.

*
Để so sánh về sự phát triển với một số quốc gia trong vùng, vào thời điểm thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ngày 2-9-1945, nước Nhật phải tuyên bố đầu hàng Đồng minh vào ngày 15-8-1945 sau cuộc chiến tàn khốc của Thế chiến II.  Nền kinh tế của Nhật Bản rơi vào tình trạng suy sụp, cái đói bao phủ khắp nơi, từ Nhật Hoàng đến Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn độn và lao động  như người dân thường.
Chính quyền Quân phiệt do các tướng lãnh cầm đầu bị thay thế bởi chính quyền dân sự do người dân bầu lên, đã tạo ra một chính quyền trong sạch với sinh hoạt dân chủ đa đảng.  Người dân Nhật đã theo gương Nhật Hoàng và Hoàng gia, sống cần kiệm kham khổ, làm việc chăm chỉ.  Theo quan sát của một nhà báo Tây phương, bữa cơm hàng ngày của người dân Nhật không có thịt, chỉ có mấy miếng đậu phụ, canh rau cũng nấu với đậu phụ.
Ngày 7-10-1945, Quốc hội Nhật thông qua bản Hiến pháp do Tổng bộ Liên minh soạn thảo.  Nhật Hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp ngày 3-11-1945.  Theo Hiến pháp mới, chính phủ Nhật Bản do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri.  Đây là bản Hiến pháp theo giá trị Tây phương, nhưng đã đem lại phúc lợi cho người dân quốc gia bị chiếm đóng.  Bản Hiến pháp cũng nhấn mạnh tới quyền cơ bản của người dân mà không ai có quyền tước đoạt, trong đó phải kể tới: quyền bầu cử, lập hội.  Cấm không được luận tội nếu không có luật sư biện hộ.  Bảo đảm quyền cư trú an toàn cho người dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.
Ngày 25-10-1946, Luật “Cải cách ruộng đất” được ban hành.  Chính phủ Nhật mua lại đất đai dư thừa của địa chủ để bán lại cho nông dân không có ruộng…Tất cả diễn ra êm đẹp, không đổ máu.  Nhờ hệ thống kinh tế tư nhân tại địa phương được duy trì, khiến đời sống người dân no ấm, đã thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản phát triển.  Thêm vào đó, Minh Trị Thiên Hoàng đã sáng suốt nhìn nhận tình thế, ông cho rằng, muốn tránh ngoại xâm, đất nước phải canh tân phát triển.  Nhờ vậy, Nhật Bản tiến rất nhanh trên đường phục hưng đất nước.  Tây phương phải mất hơn một trăm năm để tiến tới cuộc cách mạng công nghiệp.  Trái lại, nước Nhật chỉ cần 40 năm đã từ một quốc gia nông nghiệp trở thành cường quốc về công nghiệp.  
Hoàn cảnh chia cắt của nước Đức giống như Việt Nam.  Sau Thế chiến II nước Đức bị chia đôi tại Bá Linh thành hai quốc gia với hai chủ thuyết khác biệt, Đông Đức thuộc khối cộng sản nằm trong quỹ đạo của Liên Xô, Tây Đức thuộc khối Tự do.  Khi bức tường Bá Linh sụp đổ vào năm 1989, nước Đức thống nhất với hai hoàn cảnh xã hội khác nhau, giữa giầu và nghèo, giữa phát triển và chậm tiến.  Mặc dù Tây Đức phải “cưu mang” Đông Đức để cùng phát triển, nhưng sự kết hợp của quốc gia này là một sự kết hợp hoàn hảo, không tốn một giọt máu của ngưới dân, vẫn giữ được tình yêu thương con người cùng huyết thống, nêu cao được đặc tính anh hùng của dân tộc Đức.
Tại Việt Nam, sông Bến Hải (Vĩ Tuyến 17) trở thành lằn ranh chia cắt hai miền Nam Bắc theo hai thể chế khác biệt qua Hiệp Định đình chiến tại Genève ngày 20-7-1954.  Miền Bắc theo chế độ Cộng sản, miền Nam theo chế độ Tự do.  Hàng triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam để tránh họa cộng sản.  Ngày 26-10-1955 chính thể Việt Nam Cộng Hòa ra đời.  Hai tháng sau, ông Ngô Đình Diệm, vị Tổng Thống đầu tiên của thể chế Dân chủ miền Nam đã yêu cầu Pháp rút hết quân đội khỏi Việt Nam.  Hiến pháp VNCH ra đời ngày 26-10-1956.
Câu hỏi “tại sao miền Bắc không kiến thiết xứ sở sau chiến tranh như các nước Nhật Bản và Đại Hàn, mà tiếp tục đưa dân tộc vào cuộc chiến Nam Bắc, huynh đệ tương tàn” như mọi người thường nhắc tới.  Như vậy, mục tiêu của cuộc chiến này có phải vì nền độc lập của dân tộc, vì sự hưng thịnh của đất nước hay chỉ là hoài bão của những kẻ tay sai vong bản, mà người cầm đầu là Hồ Chí Minh.
Theo ông nguyễn Cao Quyền, trong tác phẩm “Việt Nam trong chiến tranh tư hữu” (1) (trang 325) đã ghi lại tiểu sử của Hồ Chí Minh.  Vì thiếu phương tiện sinh sống, năm 1911 khi đã 21 tuổi, Nguyễn Tất Thành xin làm phụ bếp dưới tầu Latouche – Tréville của Pháp.
Năm 1912 tới Pháp, ông xin vào học Trường Hành Chánh Bảo Hộ nhưng không được chấp nhận.  Cũng năm này ông sang Mỹ làm phụ bếp tại khách sạn Park House.  Từ 1913 đến 1917 ông làm phụ bếp cho khách sạn Carlton tại Anh.  Năm 1917 ông trở lại Paris, được các nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền, Phan văn Trường và Phan Chu Trinh (bạn học cũ của thân phụ ông) cho ở cùng nhà, làm nghề thợ ảnh để sống.  Hai cụ Phan thường nhờ ông mang những bài viết đấu tranh ký tên chung là Nguyễn Ái Quốc đến tòa báo và các nhà đấu tranh khác.
Nhờ hoạt động trên, Nguyễn Tất Thành quen với các nhà xã hội Pháp như Léon Blum, Marcel Cachin… và được các ông này giới thiệu vào Đảng Xã hội Pháp.  Năm 1923 khi dự Hội nghị Tours,  Nguyễn Tất Thành làm quen với Manouilsky và được ông này vận động nên Thành được sang Nga để huấn luyện trở thành cán bộ chuyên nghiệp của Quốc tế Cộng Sản (QTCS).
Năm 1924, Nguyễn Tất Thành được QTCS phái sang Trung Hoa với nhiệm vụ thành lập các chi bộ cộng sản tại Việt Nam và một số quốc gia trong vùng Đông Nam Á.  Năm 1930 ông bị bắt tại Hương Cảng vì hoạt động cộng sản.  Sau khi được thả ông bị gọi về Nga để tái huấn luyện trong 3 năm.
Năm 1938, QTCS phái ông sang Hoa Nam, Trung quốc.  Ông xâm nhập và chiếm danh “Việt Nam Độc lập Đông minh Hội” của cụ Hồ Học Lãm.  Ngày 19-5-1941, ông thành lập Mặt Trận Việt Minh tại hang Pắc Bó tỉnh Cao Bằng, Việt Nam.  Năm 1942 ông đổi tên là Hồ Chí Minh.  Năm 1945, ông tổ chức thành công vụ cướp chính quyền dân cử của Thủ tướng Trần Trọng Kim tại Hà Nội và thành lập chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945.
Theo ông Francois Revel, một nhà văn và triết gia người Pháp, đã nhận định về Hồ Chí Minh: “Mục tiêu của ông Hồ không phải là nền độc lập của nước Việt Nam mà là sự hội nhập vào Cộng Sản Quốc Tế.  Mục tiêu của ông cũng không phải giành lại cho người dân quyền tự quyết, quyền bầu cử, quyền chọn người lãnh đạo, quyền có luật pháp và lối sống của mình.  Mục tiêu của ông Hồ là cưỡng bách nhân dân phải chấp nhận chế độ toàn trị Stalin với tất cả đặc điểm của nó: những cuộc hành quyết không xét xử, trại tập trung, sự chà đạp nhân phẩm trong cải tạo và những kẻ lãnh đạo tham nhũng.”
Trong cuộc chiến tàn khốc giữa hai miền Nam Bắc từ sau năm 1954, khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” chỉ là một chiêu bài, như một ngọn cờ giải phóng để khích động lòng yêu nước của người dân.  Cũng trong thời gian này, theo báo Hong Kong (Reuter), Trung cộng đã đưa vào miền Bắc 320.000 lính TC và viện trợ 20 tỷ Mỹ kim để trang bị cho bộ đội chính quy Bắc Việt về quân trang và quân dụng.  Liên Xô cũng viện trợ cho miền Bắc Việt Nam 11,5 tỷ Mỹ kim và các võ khí nặng.  Triều Tiên (Bắc Hàn) dưới thời lãnh tụ Kim II Sung cũng gửi quân tham chiến tại Việt Nam, trong đó có phi công và 2.000.000 bộ quân phục.
Ông Hoàng Văn Hoan viết trong tác phẩm “Giọt nước trong biển cả” (2) (trang 340-343) có ghi rõ về sự trợ giúp của Trung quốc trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ: Từ năm 1950-1978, TQ viện trợ cho Việt Nam hơn 20 tỷ Dola Mỹ, chiếm 41% tổng số viện trợ của TQ cho nước ngoài.  Từ năm 1950-1954, TQ là nước duy nhất viện trợ quân sự cho Việt Nam toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.  Trong thời gian “chống Mỹ”, TQ đã cung cấp phần lớn vũ khí đạn dược, quân trang, quân dụng gồm cả thuốc men, y cụ, đại bác, xe tăng, thiết giáp, cao xạ, tên lửa, máy bay, tầu chiến, dụng cụ thay thế và xăng dầu…đủ trang bị cho hơn 2 triệu bộ đội Việt Nam và thường xuyên cung cấp đủ số đạn dược và trang bị cần thiết cho việc tác chiến liên tục trên chiến trường.  
Riêng từ năm 1965-1975, TQ đã viện trợ hơn 5 triêu tấn lương thực, hơn 300 triệu mét vải, hơn 30.000 chiếc ô tô, hơn 600 tầu thủy đủ các loại, hơn 500 đầu máy và 4 ngàn toa xe lửa, gần 2 triệu tấn xăng và các thứ hàng dệt bách hóa.  
Theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, TQ cũng cử cố vấn, chuyên gia, nhân viên kỹ thuật và bộ đội TQ sang giúp Việt Nam chiến thắng từ chiến dịch biên giới năm 1950 đến trận Điện Biên Phủ năm 1954 và giải phóng toàn bộ miền Bắc.
Với khẩu hiệu “tất cả cho chiến trường”, người dân phải sống trong tình trạng thiếu thốn thắt lưng buộc bụng, hạt gạo xẻ tư để cung cấp lương thực nuôi quân nơi tiền tuyến.  Tầng lớp thanh thiếu niên được đoàn ngũ hóa để cung ứng cho chiến trường.  Nguồn nhân lực trẻ hùng hậu này thay vì giúp cho công trình sản xuất nuôi sống người dân và phát triển đất nước, đã được tận dụng để phục vụ cho cuộc chiến “người Việt giết người Việt”, đã lưu lại cho dân tộc những vết thương khó lành cả về vật chất lẫn tinh thần.  Con số thương vong trong cuộc chiến Nam Bắc được ghi nhận:

*  Về phía VNCH:
- Tử trận và mất tích:    316.000 (Theo sử gia R. J. Rummel)
- Bị thương: 1. 170.000
*  Về phía VNDCCH:
- Tử trận và mất tích: 1.100.000 (300.000 bộ đội ghi nhận còn mất tích)
-  Bị thương:    600.000
*  Thường dân: (Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội)
-  Tổn thất nhân mạng: 4.000.000
-  Mang thương tật: 2.000.000
-  Nhiễm hóa chất: 2.000.000                        

*
Trước khi chia đôi đất nước, dưới thời Pháp thuộc, Hà Nội là thủ đô nên các công trình kiến trúc được xây dựng lớn hơn thành phố Sài Gòn.  Trường đại học và một số trường trung học tại Hà Nội có tiêu chuẩn như bên Pháp, chẳng hạn trường Y khoa xây dựng từ năm 1902, các sinh viên miền Nam phải ra Hà Nội học ngành y.  Một số sinh viên các nước thuộc Đông Dương cũng theo học tại Hà Nội.  Vì vậy, từ đời sống xã hội đến văn hóa, Hà Nội đã ưu đãi hơn Sài Gòn rất nhiều.
Tại miền Nam, từ sau ngày chia đôi đất nước năm 1954, hơn một triệu người di cư vào Nam với hai bàn tay trắng, bỏ lại quê hương miền Bắc cả mồ hôi và nước mắt.  Miền Nam phải ổn định đời sống cho hàng triệu người miền Bắc mới tới về mọi phương diện, không kể phải đối mặt với các hoạt động chống đối còn sót lại từ thời Pháp, cũng như khó khăn về hội nhập.  Nhưng quan trọng nhất là thành phần CS và thân cộng nằm vùng còn lại sau khi Tập kết ra Bắc, đã phá hoại, khủng bố đời sống người dân nghèo miền Nam.  Điểm son của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, với Tam Quyền phân lập, vẫn ưu đãi các gia đình có thân nhân tập kết, con cái họ vẫn được vào học các trường Trung và Đại học, được thâu nhận vào làm tại các công sở.  Tự do và Nhân quyền của người dân miền Nam được tôn trọng và bảo vệ.
Hệ thống kinh tế tư nhân được duy trì song song với chính sách người cầy có ruộng, khiến đời sống kinh tế miền Nam ngày một phát triển.  Để biết vị thế phát triển về kinh tế của Việt Nam đối với các quốc gia trong vùng qua các giai đoạn:
    - Thời điểm 1960 (*)
1/ Singapore: 395 US$
2/ Malaysia: 299 US$
3/ Philippine: 257 US$
4/ South Vietnam (VNCH): 223 US$
5/ South Korea: 155 US$
6/ Thailand: 101 US$
7/ China:  92 US$
8/ India:  84 US$
9/ North Vietnam (VNDCCH)  73 US$
    - Thời diểm 2013 (*)   
Vào thời điểm 2013, các quốc gia trong vùng không khởi hành cùng một thời điểm, nên sự phát triển khác nhau.  Chẳng hạn: Việt Nam có tọa độ 1.660 US$, Singapore có tọa độ 50.899 US$.  Riêng Việt Nam, vì vận tốc gia tăng thấp hơn các quốc gia trong vùng, nên tiếp tục ở hạng chót, không những không đuổi kịp bất cứ nước nào mà ngày càng tụt hậu, càng nghèo.
* (Nguồn:  Trần Đăng Hồng, PhD)
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới về sự phát triển của Việt Nam năm 2009, mức thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thailand và 158 năm so với Singapore.
Nhìn vào kết quả về thực trạng kinh tế của hai miền Nam Bắc Việt Nam, chúng ta nhận ra rằng miền Nam (VNCH) theo hệ thống kinh tế thị trường tự do, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, có nhiều cơ hội thăng tiến, đã vượt xa miền Bắc (VNDCCH) vốn theo hệ thống kinh tế chỉ huy.
Tại miền Nam, dưới thời Đệ I – VNCH, chương trình “Cải cách đền địa” được ban hành ngày 22-10-1956,  mỗi điền chủ được giữ 100 mẫu ruộng, trong đó có 30 mẫu được trực canh, còn 70 mẫu cho tá điền thuê theo tá canh.  Số ruộng của điền chủ bị truất hữu sẽ được bồi thường.  Số ruộng này  được bán cho tá điền, mỗi gia đình được mua 5 mẫu, trả góp trong 12 năm.  Giới diền chủ thực tâm ủng hộ chương trình “Cải cách ruộng đất”, vì họ được đền bù những ruộng đất mất vì chiến tranh.
Dưới thời Đệ II – VNCH, chương trình “Người cầy có ruộng” khiến miền Nam dư thừa thóc gạo. Mặc dù bị chiến tranh tàn phá bởi lực lượng quân đội miền Bắc và lực lượng “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) do Hà Nội tạo ra, đời sống người dân vẫn cơm no áo ấm.  Ngoài số gạo tồn kho thuộc chính quyền, còn có các vựa thóc của tư nhân, khiến thực phẩm ngũ cốc của miền Nam dư thừa.

*
Sau khi chiếm miền Nam vào ngày 30-4-1975, đảng CSVN áp dụng chính sách “cào bằng” như đã thực hiện tại miền Bắc sau năm 1954.  Một số chính sách được thực hiện đã phá nát miền Nam về mọi phương diện.
Theo thông báo của Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn ngày 5-5-1975 về việc trình diện học tập của quân, cán, chính miền Nam.  Theo đó, ngày 11-6-1975, các quân nhân cấp bậc thừ Thiếu úy tới Đại úy phải mang theo tư trang, chăn màn, tiền bạc cho 10 ngày.  Các cấp Tá và Tướng phải mang theo tư trang, chăn màn, tiền bạc cho 1 tháng.  Trên thực tế, thời gian tù cải tạo đã kéo dài hơn bản thông báo ban đầu, với mức tù cải tạo trung bình 6 năm, có người kéo dài đến gần 20 năm.  
Ông Võ Văn Kiệt và Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn, cho đây là một thủ thuật khiến hàng trăm ngàn quân, cán, chính miền Nam tự động vào tù, mà vì bản chất của người cộng sản nên không nhận ra đây là một sự lường gạt, một hành động bất nhân đối với những người cùng huyết thống.
Một số chính sách quan trọng khác tiếp tục được đưa ra thi hành như đánh “Tư sản mại bản” vào tháng 9-1975 đến “Đổi tiền” vào cuối tháng 9-1975, khiến người dân miền Nam hoàn toàn trắng tay.  Đến tháng 3-1978, một mẻ cướp cuối cùng là “Cải tạo Công thương nghiệp tư doanh” đã hốt trọn tài sản của thành phần này qua kiểm kê tài sản tồn kho.  Những người này không những chỉ bị tước đoạt tài sản mà còn bị đẩy ra khỏi thành phố để tới “Vùng kinh tế mới”, một nơi khỉ ho cò gáy, thiếu điều kiện sinh sống.
Trước thảm cảnh đói khổ của miền Nam, Trung tướng Trần Độ, một người cộng sản với nhiều năm tuổi đảng, đã nhận định: “Tại sao chiếm được miền Nam năm 1975, một nửa nước trù phú như vậy mà chỉ vài năm sau đã đưa cả nước vào tình trạng nghèo đói ngắc ngoải như vậy.”

*
Chúng ta không còn ngạc nhiên trước câu hỏi “tại sao dưới chế độ cộng sản, Việt Nam không thể phát triển” sau khi chiến tranh chấm dứt mà ngày càng tụt hậu về mọi phương diện.  Như nhiều người đã nhận định, Hồ Chí Minh là một gián điệp có ăn lương của Cộng sản Quốc tế, với nhiệm vụ tổ chức mạng lưới cộng sản tại Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á, nên không có ý tưởng phục hưng đất nước.  
Chúng ta hiểu ngay ý nghĩ của ông Hồ trong câu nói: “Dù phải đốt cháy cả dẫy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.  Ý nghĩa của nền “độc lập” trong câu này không phải là mục đích tối hậu vì sự hưng thịnh của dân tộc, mà chỉ là một thành tích để phục vụ cho mục tiêu nhuộm đỏ toàn cõi Đông Nam Á Châu của QTCS.  
Theo chân ông Hồ trên đường phản bội dân tộc, câu nói để đời của Lê Duẩn: “Chúng ta đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”, đã để lộ thân phận tôi đòi của tập đoàn lãnh đạo CS Hà Nội.
Mặc dù ảnh hưởng của tình trạng bóc lột, đói khổ vào “Thời bao cấp” từ Thế kỷ trước đã qua đi, nhưng trên thực tế, nó vẫn còn hiện diện dưới một hình thức mới, quy mô hơn, có hệ thống hơn và mất nhân tính hơn, được ngụy trang dưới mỹ danh “Chính sách” của một Nhà Nước độc tài./
Trần Nhật Kim
Tháng 9-2017

Chú Thích
Tài liệu tham khảo:
- 1/ Ông Nguyễn Cao Quyền:
Tác phẩm:  - “Việt Nam trong chiến tranh tư hữu”, NXB Tiến Quê Hương, Virginia, USA.
- 2/ Ông Hoàng Văn Hoan:
Tác phẩm:  “Giọt nước trong biển cả” viết vào tháng 2-1986 tại Bắc Kinh, XB tháng 7-1986.
 - Hình ảnh và tài liệu trên mạng bách khoa mở (Wikipedia).